Tại sao người nô lệ chấp nhận tôn giáo của chủ nô – rồi chuyển hóa tôn giáo ấy.

Peter Randolph –  một nô lệ ở Hạt Prince George, Virginia, Hoa Kỳ, được giải phóng năm 1847 –  miêu tả buổi nhóm cầu nguyện bí mật ông tham dự khi còn là nô lệ, “Những người nô lệ tụ họp trong vùng đầm lầy, lẩn tránh khỏi nhóm tuần tra. Mọi người tự hiểu với nhau về thời gian và địa điểm…Sau khi chào hỏi nhau, họ ngồi lại thành nhóm. Một người  giảng dạy, rồi mọi người cầu nguyện và hát thánh ca cho đến khi cảm thấy lòng hoàn toàn thư thái.” Diễn giả đứng lên, “nói hết sức chậm rãi cho đến khi cảm nhận được linh quyền… Những người nô lệ quên mọi đau khổ”, Randolph thuật lại, “trừ khi nhắc đến những thử thách trong tuần qua, họ cất tiếng ‘Tạ ơn Chúa, không phải lúc nào cũng bị như thế!’
SLAVES IN PLANTATION
Chế độ lao dịch ở các trang trại khiến nô lệ không còn thời gian để quan tâm đến tôn giáo. Một số chủ nô buộc nô lệ làm việc cả Chúa nhật. Còn trong những ngày nghỉ, nhiều nô lệ phải chăm sóc khu vườn riêng của mình để có thức ăn và thêm thu nhập (những người khác tụ họp với nhau, khiêu vũ, hoặc chè chén). Song một trong những trở ngại lớn nhất là định kiến. Nhiều chủ nô tin rằng người châu Phi quá đần độn không thể hiểu Phúc âm; những người khác còn không tin người da đen có linh hồn. Năm 1709, Fancis Le Jau, một giáo sĩ ở South Carolina, thuật lại, “Nhiều chủ nô nhất quyết rằng người da đen và người da đỏ chẳng khác gì thú vật, và đối xử với họ như những con thú.”

Cotton Mather đã phải nài nỉ các chủ nô hãy đối xử với nô lệ của họ như là những con người, “Hãy yêu người lân cận của con như chính mình. Hỡi anh em, người da đen là người lân cận của anh em.”

Đã có những nỗ lực của Giáo hội Anh từ năm 1701, sau đó là Giáo hội Trưởng Lão (1733), truyền bá Phúc âm cho người nô lệ, nhưng chỉ sau khi các tín hữu Giám Lý và Baptist tiến đến – họ đặc biệt nhấn mạnh đến trải nghiệm thuộc linh khi tiếp nhận Chúa – Cơ Đốc giáo mới thật sự phát triển trong vòng người nô lệ. John Thompson, là nô lệ từ khi mới chào đời ở Maryland trong năm 1812, kể rằng anh và những nô lệ khác “chẳng hiểu gì nhiều khi dự lễ của Anh giáo”, nhưng “đạo Giám Lý … mang tin mừng đến cho người nô lệ khốn cùng”.

Các hệ phái Baptist và Giám Lý chú trọng đến sức sống thuộc linh trong qui trình đào tạo mục sư, nên khi  một tín hữu da đen tỏ ra có ân tứ người ấy được khuyến khích đứng lên giảng dạy, ngay cả cho người da trắng. Vào thời điểm ấy xuất hiện những diễn giả tiếng tăm như “Black Harry” Hosier, Josiah Bishop, “Old Captain”, và “Uncle” Jack.

Đến cuối thế kỷ 18, hội thánh người da đen đã phát triển mạnh với khoảng 32 ngàn tín hữu Giám Lý (1786) và 40 ngàn tín hữu Baptist (1813). Mặc dù có sự phân hóa bên trong hai hệ phái này về chế độ nô lệ, dân da trắng miền Nam muốn chứng tỏ rằng một xã hội Cơ Đốc nhân ái – cả nô lệ và người tự do – vẫn có thể phát triển ở vùng đất này.

Mặt khác, thông điệp Phúc âm theo cách phổ truyền của người da trắng vẫn là phiến diện: sự cứu rỗi bởi ân điển, niềm vui thỏa trong đức tin, và niềm hi vọng về thiên đàng nhưng họ lại bỏ qua nhiều điều hệ trọng khác. Họ lớn tiếng rao giảng, “Hãy vâng phục chủ mình”  nhưng chẳng nói gì đến mệnh lệnh, “hãy tháo xiềng gian ác, mở dây trói của ách, thả cho kẻ bị áp bức.” John Dixon, một người da trắng hầu việc Chúa giữa người da đen, ghi lại sự bất bình của ông, “Các mục sư quở trách họ [người da đen] tội ăn cắp hạt giống của người da trắng mà chẳng nói gì về tội sở hữu nô lệ, bóc lột tiền công, hoặc bán vợ con họ cho những thương nhân tàn ác; vì vậy họ nghi ngờ Phúc âm và tin rằng các diễn giả và chủ nô câu kết với nhau chống lại họ.”

Theo nhiều ký thuật, thật không may khi có chủ nô là tín hữu. Joseph Smith, một cựu nô lệ, giải thích rằng chủ nô ngoại đạo cho nô lệ nghỉ trong ngày Chúa nhật, nhưng chủ nô tín hữu, vì bổn phận tôn giáo, lại nghiệt ngã hơn, “Nay thì mọi người biết rằng Chúa nhật là ngày nghỉ. Nhưng nếu bạn lỡ làm điều gì phật lòng chủ nô, họ sẽ ghi nhớ và trừng phạt bạn vào thứ Hai.” Có những chủ nô không cần phải đợi đến thứ Hai. Một nô lệ thuật lại rằng ông chủ ban Tiệc Thánh vào buổi sáng, rồi dùng roi quật anh vào buổi chiều vì lỗi về trễ ít phút. Susan Boggs nhớ lại ngày cô chịu lễ báp-têm, “Người cử hành lễ báp-têm đã trói sẵn một phụ nữ da màu ở trong vườn để khi về nhà ông sẽ trừng phạt cô ấy bằng roi… Chúng tôi phải ngồi nghe ông ấy giảng dạy, mẹ của cô gái cũng ngồi trong nhà thờ nghe giảng với chúng tôi.” Cũng dễ hiểu khi Frederick Douglass nhận xét về lòng tin kính của các chủ nô, “vô cảm  và cứng cỏi, chẳng có ý niệm nào về việc lành, cũng không hề biết đến lòng trắc ẩn.”

Thế nhưng, người da đen nhìn nhận sự việc hoàn toàn khác, họ phân biệt tách bạch giữa thông điệp Cơ Đốc với nền văn hóa sở hữu nô lệ. Khi người chủ nô bán cha mẹ già của William Craft bởi vì họ không còn có giá trị kinh tế, Craft cảm thấy “một sự căm hận sâu sắc, không phải đối với Cơ Đốc giáo, nhưng với kiểu tin kính của giới chủ nô.”

Khi nghe thông điệp Cơ Đốc, nhiều người chịu bắt phục bởi Thánh Linh để bắt đầu một đời sống mới. Những trải nghiệm qui đạo như thế xảy ra trên những cánh đồng, trong rừng, tại những buổi truyền giảng, trong khu nô lệ, hoặc giữa những lễ thờ phượng của chính họ. John Jasper, một diễn giả nổi tiếng ở Richmond, tin nhận Chúa  khi đang làm việc trong một nhà máy thuốc lá. Ông thuật lại rằng khi “ánh sáng soi rọi, tôi thấy lòng thư thái, bay bổng; sự cứu rỗi cuồn cuộn chảy qua linh hồn tôi như thác lũ; tôi có cảm giác như có thể thổi bay mái nhà xưởng bằng một tiếng thét.” Còn Josiah Henson nói ông cảm thấy niềm vui thỏa ngọt ngào khi nghe giảng luận về sách Hê-bơ-rơ chép rằng Chúa Cơ Đốc đã nếm trải sự chết “cho mọi người.” Ông thuật lại, “Ôi, thật phước hạnh và ngọt ngào khi được biết Chúa yêu tôi!”  Những trải nghiệm ấy quá thật đến nỗi bất kỳ điều gì các chủ nô nói hay làm cũng không thể lay chuyển niềm tin của họ.
PSALM 23
Trong khi những buổi nhóm cầu nguyện tại nhà của chủ nô hoặc những lễ phượng mỗi Chúa nhật qui tụ cả người da trắng lẫn người da đen chỉ nhằm phục vụ lợi ích của giới chủ nô với những thông điệp như “Hãy phục vụ chủ mình. Đừng trộm cắp gà của chủ. Hãy làm bất kỳ điều gì chủ bảo…” người da đen bắt đầu tổ chức những buổi nhóm riêng… “Họ thường phải thì thầm hát thánh ca và thầm thì cầu nguyện.” Họ cũng thường nhóm lại trong rừng, dưới mương rãnh, ở khe suối, hoặc ẩn trong lùm cây, bụi rậm. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng phải giữ bí mật; trong nhiều nơi chốn và trong nhiều dịp tiện – lễ thờ phượng vào Chúa nhật, các buổi nhóm cầu nguyện, lễ báp-têm, và nhóm phục hưng – người da đen công khai nhóm họp. Một cựu nô lệ thuật lại, “Hầu hết đều là diễn giả người da trắng, nhưng một khi có diễn giả người da đen, thì đúng là thiên đàng.”

Khi cuộc nội chiến bùng nổ vào năm 1861, số tín hữu da đen ở miền Nam đã lên đến nửa triệu người. Những giáo đoàn da đen tại một số thành phố lớn có số thành viên được tính bằng số ngàn. Mặc dù những giáo sĩ da trắng – cả chủ nô lẫn người chủ trương bãi nô – có những đóng góp đáng kể, chính yếu tố thông điệp phúc âm có thể cắm rễ sâu trong lòng người da đen, đâm hoa kết quả theo cách riêng của họ, mang đến sự an ủi và niềm hi vọng cho những con người cùng khốn, đã khiến Cơ Đốc giáo phát triển theo cách hoàn toàn khác với sự mong đợi của người da trắng.

Người da đen biết cách khước từ hình mẫu do người da trắng áp đặt để tự kiến tạo và nuôi dưỡng đức tin cho chính mình. Thay vào đó, họ tự khám phá thông điệp Kinh Thánh, như sử gia Arnold Toynbee miêu tả, “Chúa Giê-xu là nhà tiên tri đã đến thế gian không phải để củng cố vị trí của kẻ quyền thế, nhưng để nâng cao địa vị của người thấp hèn và kẻ khiêm nhu.” Điều này mang đến cho người da đen không chỉ niềm hi vọng mà còn sự tự tin khiến người da trắng phải nhìn nhận và khiếp sợ. Francis Henderson thuật lại trải nghiệm qui đạo của cô: “Tôi gia nhập một hội thánh Giám Lý, qua những bài giảng luận tôi biết rằng Chúa tạo dựng mọi người tự do và bình đẳng, tôi không cần phải là nô lệ – tôi không phải để họ lạm dụng. Từ lúc ấy, họ không còn trừng phạt tôi. Tôi nghĩ là chủ tôi bắt đầu sợ hãi.” Sự dạn dĩ của người da đen một phần khởi nguồn từ niềm tin Chúa quan tâm đặc biệt đến người nghèo khổ.

trích The Inconceivable Start of African American Christianity của Mark Galli, tạp chí Christianity Today, 21/02/2014.

Advertisements