Dù với đức tin hoài nghi hay đức tin xác tín thì chúng ta được xưng công chính chỉ bởi một điều duy nhất: Thập tự giá.

Hoài nghi là nét đặc trưng của thời đại chúng ta. Ngày nay, bất cứ ai tỏ dấu nghi ngờ về đức tin đều được xem là người lành mạnh và chân thật trong các vấn đề tri thức. Cũng vậy, những tác giả thích bộc lộ hoài nghi đối với tôn giáo thường được xem là bậc trí giả.

Nhìn chung, hoài nghi là điều tốt. Cứ khăng khăng rằng đức tin không có chỗ cho những tra vấn thì chẳng khác gì giả hình. Có những bậc vĩ nhân trong Kinh Thánh từng nghi ngờ sự tốt lành của Chúa – có thể liệt kê ngay những tên tuổi như Áp-ra-ham, Gióp, và Ha-ba-cúc. Các vị ấy mà còn như vậy, huống hồ gì chúng ta!

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng có nhiều người tin mà không có chút nghi ngờ nào. Hoài nghi chưa bao giờ là một vấn nạn trong đời sống đức tin của họ. Khi còn học trong chủng viện, có lúc tôi hoang mang khủng khiếp khi nghĩ rằng có thể không có Chúa, cũng may là nó qua nhanh. Tôi có thể nói hết sức chân thật rằng, trừ những ngày ấy ra, tôi không có chút nghi ngờ nào về đức tin của mình. Tôi vừa trò chuyện với hai người bạn đáng tin cậy – một người là quản nhiệm hội thánh, người kia là tác giả nổi tiếng chuyên viết về các vấn đề tâm linh – cả hai đều có kinh nghiệm giống như tôi. Tôi không tin là trên trái đất này chỉ có ba chúng tôi mới có đức tin như thế.

Tôi cho rằng đức tin, từ trong bản chất, đã bao hàm sự hoài nghi; bằng chẳng vậy, chúng ta đâu cần đến đức tin và hi vọng. Chúng ta không thể nào biết như Chúa biết – Ngài là đấng toàn tri –  vì vậy chúng ta tin cậy Ngài. Đó là chưa nói đến một khía cạnh khác của đức tin: càng tăng trưởng trong Chúa, chúng ta càng khiêm nhường, tin cậy, và thuận phục Ngài.

Tuy nhiên, tôi muốn nói về sự hoài nghi dẫn đến những tra vấn không chỉ về sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà còn về sự khôn ngoan và tốt lành của Ngài. Mà đó là nỗi hoang mang sâu sắc phủ lút chúng ta, lại càng không thể xem chúng chỉ là những trục trặc nhỏ trong đời sống tâm linh mà chúng ta có thể kiểm soát được bằng cách này hay cách khác.

Ngay cả những tín hữu sốt sắng cũng có trải nghiệm giống như thế. Dù vậy, kẻ xác  tín lẫn người vật vã với hoài nghi đều muốn biện minh cho mình.

Trong tình huống tồi tệ nhất, chúng ta giải thích rằng sự hoài nghi cho phép chúng ta duy trì khoảng cách với Chúa. Tôi đã nói chuyện với một số người nhất định không chịu tin Chúa bởi vì điều ấy đòi hỏi họ phải thuận phục Ngài, mà họ thì chẳng thích thú gì với viễn cảnh  phải từ bỏ nếp sống phóng túng của mình. Thường thì họ không chịu công khai thừa nhận điều ấy, nhưng khởi sự liệt kê những trở ngại về tri thức, và xem đó là nguyên nhân khiến họ không thể chấp nhận đức tin Cơ Đốc.

Cũng vậy, nhiều người nói rằng không ai thông minh và biết suy nghĩ lại có thể sống mà không hoài nghi. Tóm lại, họ lập luận, không hoài nghi tức là không biết suy nghĩ.

Song, hiếm có ai trí thức hơn Phao-lô, Athanasius, Thomas Aquinas, John Calvin, Jonathan Edwards, và Karl Barth, vậy mà hoài nghi xem ra chẳng có ảnh hưởng gì trên cuộc đời và mục vụ của những vị này. Ít có sự tương đồng giữa trí tuệ và đức tin cũng như giữa trí tuệ và hoài nghi, nhưng giới trí thức thường biện minh cho mình bằng cách khẳng quyết hoài nghi là một thuộc tính của trí tuệ.

Mặt khác, những người sở hữu loại đức tin không chút hoài nghi cũng thường biện minh cho mình. Kinh Thánh khuyến khích một đức tin vững chãi. Khi đọc những câu Kinh Thánh ấy chúng ta dễ bị cám dỗ tự khen mình: Ồ, chúng ta mới là những Cơ Đốc nhân theo Kinh Thánh! rồi quay sang tỏ lòng thương hại đối với những ai đang sống trong hoài nghi.

Những người ấy cho rằng đức tin là sản  phẩm của ý chí – rằng đức tin không chút hoài nghi là loại đức hạnh mà chúng ta cần trau dồi. Tuy nhiên, nếu tự tra xét mình cách chân thật, chúng ta sẽ thấy sự việc khác đi. Làm sao mà không tra vấn về sự nhân lành của Thiên Chúa khi chứng kiến những điều khủng khiếp xảy ra suốt dòng lịch sử và đang xảy ra xung quanh chúng ta? Dường như mọi chứng cứ đều dẫn đến một kết luận hiển nhiên nhưng khó mà chấp nhận được đối với chúng ta. Vậy thì, thái độ này hoặc là tâm lý phản kháng hoặc là ân tứ được ban cho. Nếu là ân tứ thì không dễ mà chấp nhận, càng không thể mong đợi người khác chấp nhận nó như thể mọi việc đều ổn thỏa.

Hiển nhiên là Kinh Thánh dạy chúng ta cần có đức tin, bởi vì đức tin là tốt lành, “Chúng ta được xưng công chính bởi đức tin” Phao-lô viết như thế (Rô-ma 5: 1). Song, loại đức tin mà Kinh Thánh khuyến khích không phải là sự tin cậy buồn tẻ không có chỗ cho tra vấn hoặc hoài nghi. Như đã nói ở trên, trong Kinh Thánh đầy dẫy những “anh hùng đức tin” là những người vẫn miệt mài tra vấn.

Vâng, đức tin trong Kinh Thánh không hướng về chúng ta, về cảm giác hoặc thái độ của chúng ta, nhưng hướng về đấng chúng ta tin: Chúa Giê-xu Cơ Đốc. Cuối cùng thì chúng ta “được xưng công chính bởi đức tin,” nhờ đó mà chúng ta vui thỏa, không phải trong đức tin nữa, mà trong “Thiên Chúa bởi Chúa chúng ta là Chúa Giê-xu Cơ Đốc, nhờ Ngài mà nay chúng ta nhận được sự hòa giải.” (Rô-ma 5: 10-11). Thật vậy, Kinh Thánh không chú tâm đến đức tin của chúng ta như chú tâm đến đức tin đối với Chúa Giê-xu.

Đức tin là sự ban cho, đơn sơ và tinh tuyền. Các môn đồ trên đường đến làng Em-ma-út không thể nhận ra Chúa phục sinh cho đến khi “mắt họ được mở ra để nhận biết Ngài” (Lu-ca 24: 31) Chúa Giê-xu cũng nhắc đi nhắc lại rằng, “Nếu Cha không kéo đến thì không ai có thể đến với ta” (Giăng 6: 44).

Đây là loại đức tin mà người hoài nghi lẫn người không hoài nghi cùng chia xẻ. Nếu không tin và theo Chúa Giê-xu thì không thể là người hoài nghi được. Bằng chẳng vậy, họ là người vô tín rồi!

Tóm lại, dù với đức tin hoài nghi hay đức tin xác tín thì chúng ta được xưng công chính chỉ bởi một điều duy nhất: Thập tự giá. Như Phao-lô đã viết, Thiên Chúa xưng công chính cho kẻ có tội – cả người Giu-đa lẫn người ngoại bang, người có tín ngưỡng lẫn người không theo đạo, tội nhân lẫn người Pha-ri-si, và cả người hoài nghi lẫn người không hoài nghi.

Trích Why Doubters and Non-Doubters Share a Common Faith? của Mark Galli, Tạp chí Christianity Today 01/9/2011.

Advertisements