Không có thẩm quyền nào khác cho người rao giảng Lời Chúa ngoài sự kêu gọi và sai phái từ chính Thiên Chúa


Sinh trưởng  ở Tokea, một thị trấn nhỏ khoảng 30 km phía nam thành Bethlehem, Vương quốc Giu-đa, vào khoảng đầu thế kỷ thứ 8 TCN, A-mốt tìm đến Bê-tên thuộc Israel để nói tiên tri.

Không chỉ tiên báo những sự việc sắp xảy đến, các tiên tri thời Cựu Ước còn chuyển giao thông điệp của Thiên Chúa cho dân sự Ngài. Bất cứ ai từng đọc các sách tiên tri đều có thể nhận thấy sứ mạng thứ hai là  quan trọng không kém sứ mạng thứ nhất, nếu không nói là quan trọng  hơn.

amos

Dưới thời trị vì của Giê-rô-bô-am II, Vương quốc phía Bắc (Israel) đạt đến đỉnh điểm của sự phồn vinh trong suốt chiều dài lịch sử của nó. Như một quy luật, sự hưng thịnh vật chất thường đi đôi với sự suy đồi thuộc linh.

A-mốt lên tiếng vạch trần tính vô cảm của xã hội đương thời, những áp bức bất công, và nhất là  tình trạng trống rỗng tâm linh được che giấu dưới nghi thức tôn giáo trọng thể. Ông thiết tha kêu gọi dân sự quay trở lại với sự tinh tuyền của đạo thật.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi giới lãnh đạo tôn giáo đầy quyền lực xem A-mốt là  mối đe dọa cho uy tín và quyền lợi của họ, nên  tìm cách tra vấn thẩm quyền của ông.

Đáp lại những tra vấn ấy, A-mốt giãi bày, “Ta không phải là đấng tiên tri, cũng không phải con đấng tiên tri; nhưng ta là một kẻ chăn, chăm sóc những cây vả rừng. Chúa bắt lấy ta từ sau bầy, và Chúa phán cùng ta rằng: Hãy đi nói tiên tri cho dân Israel ta” (A-mốt 7: 14, 15).

Trong một quốc gia theo chế độ thần quyền như Israel, các tiên tri là những người được đào tạo chuyên nghiệp, được xã hội công nhận, và được hưởng quyền  lợi tương xứng với địa vị  cao trọng của họ. Cũng dễ hiểu khi con cái  họ thụ hưởng các điều kiện tốt hơn những người xuất thân từ những giai tầng khác khi tìm kiếm cơ hội gia nhập giai cấp đặc quyền này. Trong luật pháp và các vấn đề tâm linh, thường khi họ là những người có tiếng nói sau cùng. Không ai có thể tra vấn thẩm quyền của họ.

Nhưng có một kẻ không thuộc về bọn họ  – không chỉ đến từ Giu-đa, không thuộc giai tầng tiên tri, mà còn không chịu lặp lại những điều họ rao giảng – đến và nói tiên tri ngay trên đất của họ. Điều này có nghĩa là thẩm quyền của họ đang bị công khai thách thức.

Với sự tự tin, và cũng không phải là không có tự hào, A-mốt tự nhận mình không phải là một tiên tri “chuyên nghiệp”, cũng không có mối quan hệ huyết thống nào với giai tầng đặc quyền này, nhưng ông đi ra rao truyền thông điệp của Thiên Chúa là để đáp lại ơn gọi của Ngài, “Chúa bắt lấy ta từ sau bầy, và phán cùng ta: Hãy đi nói tiên tri cho dân ta.”

Thái độ của A-mốt là một lời khẳng định: Không có thẩm quyền nào khác cho người rao giảng Lời Chúa ngoài sự kêu gọi và sai phái từ chính Thiên Chúa.
ttgia-tren-ban-tay

Có lẽ những xác quyết của triết gia người Đan Mạch Søren Kierkegaard về các chuẩn mực dành cho người rao giảng Lời Chúa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thẩm quyền và ơn gọi dành cho thánh chức cao quý này,

Chứng nhân của chân lý là người theo đuổi  nếp sống dẫn dắt người ấy vào sự hiểu biết sâu sắc về những tranh chấp nội tâm, nỗi kinh hãi và khiếp đảm, những cám dỗ, những khủng hoảng tâm linh, và những nỗi đau tinh thần. Chứng nhân của chân lý là người mang lời chứng trong sự nghèo khó, khiêm nhường, hứng chịu sự miệt thị, ngộ nhận, căm ghét, thóa mạ và chế giễu. Chứng nhân của chân lý là người tử vì đạo.

Ai có thể nếm biết những trải nghiệm tâm linh và chấp nhận cuộc sống  hi sinh cao cả như thế nếu không phải là người nhận lãnh ơn gọi để được Thiên Chúa tôi luyện và sai phái?

Advertisements