Các thầy thông giáo được xem là những người khôn ngoan nhất, còn người Pha-ri-si là những người thánh thiện nhất.

Lời Chúa chúng ta, “Ta phán cùng các ngươi rằng, nếu sự công bình của các ngươi chẳng trỗi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng.” (Ma-thi-ơ 5: 20)

Thầy thông giáo là những người kiên trì chống Chúa. Họ là những người chuyên về học thuật. Họ là chuyên gia về luật của Chúa, không phải luật của loài người. Nhiệm vụ chuyên biệt của họ là đọc và diễn giải luật pháp và lời tiên tri.

Họ là những nhà thuyết giáo của dân Do Thái. Chúng ta cũng có thể gọi họ là những nhà thần học. Họ được xem là những nhà trí thức hàng đầu của dân tộc Do Thái thời ấy.

Còn những người Pha-ri-si thuộc về một cộng đồng cổ xưa của người Do Thái; từ nguyên trong tiếng Hebrew nghĩa là biệt lập hoặc tách rời, nhưng không phải là tách khỏi quốc giáo.

Họ chỉ tự biệt riêng mình cho nếp sống khắc kỷ, nghiêm nhặt trong từng lời ăn tiếng nói. Họ sốt sắng tuân giữ luật pháp đến từng chi tiết nhỏ nhất: dâng phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần. Họ làm như vậy để được tôn vinh, nể trọng như là những người thánh thiện nhất.

Thường thì các thầy thông giáo và dòng Pha-ri-si đồng thuận và phối hợp tốt với nhau, do đó Chúa chúng ta thường đánh đồng họ với nhau như chúng ta sẽ thấy trong trường hợp sau đây.

Ở đây, họ được nhắc đến như là các giáo sư tôn giáo ngoại hạng; các thầy thông giáo được xem là những người khôn ngoan nhất, còn người Pha-ri-si là những người thánh thiện nhất.

Sermont on the Mount

Chúa chúng ta đã đưa ra một bảng liệt kê chính xác về các đức hạnh mà một người trong số họ đã tự  nhận. Người ấy đã trình bày cách mạch lạc và chi tiết về sự  công chính của mình, có lẽ khó mà tin rằng người ấy đã bỏ sót điều gì.

Thật vậy, người ấy đi đến đền thờ cầu nguyện, chỉ để phô trương những đức hạnh của mình mà quên đi mục đích của sự cầu nguyện. Người ấy chẳng cầu nguyện gì cả mà chỉ cố bảo cho Chúa biết mình khôn ngoan và tốt lành biết bao, “Lạy Chúa, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế này. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và dâng một phần mười về mọi món lợi của tôi.”

Như thế, sự công chính của người ấy có ba phần: Thứ  nhất, “tôi không giống những người khác,”  tôi cũng “không giống người thâu thuế này.” Thứ  hai, “Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần.” Và sau cùng, “Tôi dâng một phần mười về mọi món lợi của tôi.”

“Tôi không phải như người khác.” Có thể hiểu người ấy muốn nói như thế này, “Tôi không để mình bị cuốn theo lối sống của mọi người. Tôi không sống theo nếp cũ,  không bắt chước người khác, nhưng tuân giữ  lời Chúa.”

Nguời ấy không phải là kẻ bóc lột, gian trá, bất công, cũng không ngoại tình, mặc dù những tội lỗi này phổ biến giữa mọi người, ngay cả trong vòng những người được gọi là dân Chúa; người ấy không hề phạm tội lỗi nào công khai hoặc kín giấu; nhưng là một người trong sáng, chân thật, sống cuộc đời không chỗ trách được.

“Tôi kiêng ăn một tuần hai lần.” Tất cả người Pha-ri-si nghiêm túc đều kiêng ăn hai lần trong tuần. Thứ Hai họ kiêng ăn để kỷ niệm sự kiện Môi-se nhận hai bảng đá được ghi chép bởi ngón tay của Thiên Chúa; Thứ Năm họ kiêng ăn để tưởng nhớ việc Môi-se ném hai bảng đá ấy, khi ông chứng kiến cảnh dân chúng nhảy múa chung quanh con bò vàng.

Họ không ăn gì cả cho đến ba giờ chiều; thời điểm họ bắt đầu dâng tế lễ buổi chiều trong đền thờ. Lúc ấy, họ thường ở trong đền thờ để phụ giúp trong lễ hiến tế, và tham dự lễ cầu nguyện chung. Họ cũng cầu nguyện riêng với Chúa, tra cứu Kinh Thánh, đọc luật pháp và các sách tiên tri, rồi dành thì giờ để suy ngẫm những điều đã đọc.

“Tôi dâng một phần mười về mọi món lợi của tôi.” Người Pha-ri-si tuân giữ điều này ở mức độ nghiêm nhặt nhất. Không có ngoại lệ nào, dù là những chi tiết nhỏ nhất, ngay cả những món như bạc hà, hồi hương và rau cần. Họ không hề giữ lại gì trong điều mà họ xem là thuộc về Thiên Chúa; nhưng hằng năm dâng đủ một phần mười mọi món lợi của họ, bất kể chúng là gì.

Đó là sự “công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si;” sự công chính, xét theo nhiều khía cạnh, vượt quá sự suy nghĩ của nhiều người vốn đã quen với cách dâng tiền thông thường.

Có lẽ anh em sẽ nói, “Ồ, đây chỉ là sự dối trá và giả hình, ai cũng biết họ là bè lũ đạo đức giả.” Rõ ràng nhận xét này đúng với một số người trong bọn họ, những người chẳng hề quan tâm đến đạo giáo, không kính sợ Chúa, cũng không muốn làm đẹp lòng Ngài. Họ chẳng hề quan tâm đến sự vinh hiển danh Chúa, nhưng chỉ tìm kiếm sự tôn vinh từ con người. Đây chính là những người mà Chúa chúng ta đã nhiều lần lên án và quở trách nặng nề.

Song, không phải bởi vì có nhiều người Pha-ri-si là kẻ đạo đức giả nghĩa là tất cả người Pha-ri-si đều giống như thế.

Đạo đức giả không phải là điểm đặc thù của dòng Pha-ri-si như nhiều người vẫn nghĩ. Đúng hơn, như nhận xét của Chúa chúng ta, họ là “những kẻ cậy mình là người công bình mà khinh dể kẻ khác.” Đây mới đúng là tính cách đặc thù của họ.

Những người Pha-ri-si này không thể là kẻ giả hình, họ thực sự tin rằng mình là người công chính, và vì vậy mà khinh dể kẻ khác. Lúc đang tán dương những đức hạnh của mình trước Thiên Chúa, người Pha-ri-si cầu nguyện trong đền thờ thành thật tin rằng mình là người công chính. Người ấy thưa với Chúa điều mình nghĩ, đó là mình tốt hơn người khác nhiều lắm.

trích Upon our Lord’s Sermon on the Mount của John Wesley

________________________________________________________________________________________________________

SỰ CÔNG CHÍNH CỦA NGƯỜI PHA-RI-SI (2)

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements