Chính các nhóm tín hữu quây quần với nhau để thờ phượng và học Kinh Thánh là bệ phóng giúp phát triển Phong trào Tin Lành ở Anh, rồi ở Mỹ.

Ảnh hưởng quan trọng nhất tác động đến Phong trào Tin Lành (Evangelicalism) trong thời kỳ sơ khai đến từ Phong trào Sùng tín (Pietism) ở Âu châu đại lục.

Họ là những nhà tiên phong trong các phát kiến mà chúng ta vẫn thường xem là những đặc trưng của Phong trào Tin Lành ở Anh và Mỹ như thuyết giảng ngoài trời, chuẩn hóa kỹ năng giảng dạy nhắm vào giới trẻ, sáng tác thánh ca theo cung cách mới, hát thánh ca bên ngoài nhà thờ, và tổ chức các nhóm tín hữu.

Chính các nhóm tín hữu quây quần với nhau để thờ phượng và học Kinh Thánh là bệ phóng giúp phát triển Phong trào Tin Lành ở Anh, rồi ở Mỹ.

John Wesley

John Wesley

Đối với hai anh em John và Charles Wesley, ảnh hưởng này còn tác động mạnh mẽ hơn, nhất là trong trải nghiệm tâm linh của họ. August Gottlieb Spangenberg, một thủ lĩnh của Giáo hội Moravia (thuộc Phong trào Sùng tín) đi cùng chuyến tàu với anh em Wesley khi họ trên đường đến Georgia, Mỹ năm 1736.

Spangenberg đã chia sẻ với họ niềm khao khát tìm kiếm một Cơ Đốc giáo chân chính, là điều mà họ vẫn luôn tìm kiếm, cùng bày tỏ sự tin cậy vào ân điển cũng như lòng bình an, vui thỏa khi chấp nhận ân điển ấy, là điều hoàn toàn xa lạ với anh em Wesley.

Khi trở lại Anh năm 1738, John Wesley vội đến Đông Saxony để gặp Zinzendorf, nhà lãnh đạo giáo hội Moravia. Trong thời gian lưu lại tại đây, Wesley cẩn thận ghi chép lời chứng của các tín hữu Moravia về trải nghiệm tiếp nhận đức tin Cơ Đốc của họ.

Tín hữu Moravia cũng là những nhà tiên phong trong việc sáng tác thánh ca theo truyền thống Tin Lành. Thời ấy, ở Anh và Mỹ người ta chỉ ca ngâm các Thi Thiên cho đến khi các bản thánh ca của Isaac Watts xuất hiện. Thánh ca Moravia – sử dụng ngôn ngữ dân dã, tập chú vào Chúa Cơ Đốc, ân điển, và trải nghiệm quy đạo – chứng tỏ hiệu quả đặc biệt trong nỗ lực trình bày những nguyên lý căn bản của đức tin Tin Lành.

Zinzendorf

Zinzendorf

Ngoài ra, họ cũng là những người tiên phong truyền bá phúc âm cho người nô lệ, từ những năm đầu của thập niên 1730. Khởi đầu với những thành công tại vùng Tây Ấn, sau lan ra cả lục địa. Tinh thần truyền giáo của họ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn thể cộng đồng Tin Lành. Cần biết rằng mãi đến năm 1791 hoặc 1792,  William Carey mới bắt đầu công cuộc truyền giáo tại Ấn Độ.

Suốt thế kỷ 18, rồi tiếp đến thế kỷ 19, nhìn chung thế giới nói tiếng Anh dần rời xa tôn giáo truyền thống định hình bởi tinh thần tuân phục giới thẩm quyền, trung thành với nếp cũ, tôn trọng truyền thống để hướng tới một Cơ Đốc giáo chú trọng đến mỗi cá nhân và thích ứng với thực tế.

Song, chính tại Hoa Kỳ tiến trình này đã bộc phát mạnh mẽ. Một phần do đây là vùng đất mới rộng mênh mông mà dân cư  thưa thớt, phần khác là do cuộc Cách mạng Mỹ  thổi luồng gió dân chủ vào tân thế giới, nguyên nhân còn lại là sự xuất hiện của những nhà lãnh đạo tôn giáo xuất chúng như Francis Asbury  thuộc Giáo hội Giám Lý, cùng tinh thần chủ động và tích cực của  các thủ lĩnh giáo pháo Baptist tại các địa phương.

Tại Anh, Phong trào Tin Lành cũng phát triển mạnh nhưng chậm hơn và bị đóng khung trong mối quan hệ phức tạp với Giáo hội Anh. Dù chịu nhiều ảnh hưởng từ đức tin Tin Lành, Giáo hội Anh vẫn tiếp tục là quốc giáo.

trích The Rise of Evangelicalism, phỏng vấn Mark Noll, đăng trên Tạp chí Christianity Today, 09/06/2005


					
Advertisements