Chính họ đã chọn kiếp sống lang thang trong hoang mạc khi ngoan cố khước từ vâng phục mạng lịnh Chúa.

Sau khi chứng kiến phép lạ lớn và  diệu kỳ  của Thiên Chúa, là lúc Ngài giang thẳng cánh tay mạnh sức giải phóng họ, chấm dứt  bốn thế kỷ ngụ cư  và  nô lệ ở đất Ai Cập, các con cháu của Abraham thể hiện sự vô ơn là lòng vô tín của mình bằng cách khước từ đi lên chiếm lấy Đất Hứa, và mưu tính lật đổ Môi-se, người được Chúa chọn để giải cứu và lãnh đạo con dân Ngài. Hậu quả của hành động phản loạn này là kiếp sống lưu lạc trong đồng vắng cho đến khi tất cả kẻ mưu phản không còn nữa.

180px-Moses_dore

Môi-se đập vỡ Bảng Luật pháp

Sống dưới án phạt bốn mươi năm quanh quẩn trong một vùng đất hoang vu cho đến khi tất cả kẻ bội nghịch “thây ngã trong đồng vắng” không phải là điều dễ dàng. Cuộc sống bị gói gọn trong một số công việc khá đơn điệu: lượm ma-na mỗi sáng sớm (với độc nhất một loại nguyên liệu “giống như hạt ngò, sắc trắng, mùi như bánh ngọt pha mật ong,” có lẽ họ không có nhiều lựa chọn để có được một thực đơn phong phú cho bữa ăn hằng ngày, tương tự là món thịt chế biến từ những con chim cút “bay phủ trại quân” mỗi chiều); thu tóm hành lý để lên đường mỗi khi trụ mây cất lên khỏi Trại, rồi hạ trại mỗi khi trụ mây dừng lại, và cứ như thế “không cứ ngày hay đêm”.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trong lòng họ khái niệm về một vùng đất hứa xa vời, dù “đượm sữa và mật”, là hết sức mờ nhạt và bị lấn lướt bởi hình ảnh “ngồi kề nồi thịt mà ăn bánh chán chê!” cùng thưởng thức các loại “cá, dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi” của xứ Ai Cập, đến nỗi họ cất tiếng than khóc  “Bây giờ linh hồn chúng tôi khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi.” Họ quên hết những lao dịch, khổ nhục, nhọc nhằn của kiếp nô lệ trên đất Ai Cập, họ cũng quên nạn tuyệt chủng đã cận kề khi Pha-ra-ôn ra lệnh giết tất cả bé trai mới lọt lòng mẹ. Họ không còn xem sự giải cứu của Chúa là ơn mà là họa, thà  “chịu chết… tại xứ Ai Cập” còn hơn “vào nơi đồng vắng này” để “bị chết đói.”

Trước đó,  khi do thám xứ Ca-na-an trở về, thay vì tin cậy quyền năng của Đấng Tể trị đã giải cứu họ khỏi Ai Cập hùng mạnh để đồng một lòng hiệp một ý tiến lên chiếm lấy xứ theo lời hứa của Chúa, họ sợ hãi kêu khóc, “Về phần chúng tôi, há chẳng nên trở về Ai Cập là tốt hơn sao?”, rồi mưu tính lật đổ Môi-se, lập một quan trưởng khác để dẫn họ trở lại Ai Cập.

Từ trong đáy lòng của tuyển dân, họ cảm thấy xứ Ai Cập là gần gũi và đáng yêu hơn Đất Hứa. Họ không chịu nhớ ra rằng chính họ là người đã chọn kiếp sống lang thang trong hoang mạc khi ngoan cố khước từ vâng phục mạng lịnh Chúa để tiến chiếm xứ Ca-na-an là xứ “đượm sữa và mật” mà Ngài đã dành sẵn cho họ, nhưng cứ lớn tiếng oán trách tại sao “dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng đặng làm cho cả đoàn dân đông bị chết đói” hoặc “Vì cớ nào Chúa dẫn chúng tôi vào xứ này để bị ngã dưới lưỡi gươm?”.

Dù sửa trị dân tộc cứng lòng và phản nghịch này, Chúa vẫn đặt họ dưới sự quan phòng của Ngài. Trụ mây che chở họ khỏi ánh nắng gay gắt ban ngày, trụ lửa soi sáng  và bảo vệ họ ban đêm. Ma-na và thịt chim cút nuôi sống đoàn dân du mục, ngoài ra còn có bầy súc vật của họ; “trong bốn mươi năm này, áo xống họ không hư mòn, chân họ chẳng phù lên.”

Sinai

Hoang mạc Sinai

 

Song, xem ra những điều kỳ diệu ấy chẳng có mấy giá trị đối với họ. Giống quán trọ ở Bết-lê-hem, một tấm lòng đã bị lấp đầy bởi “sự mê tham của xác thịt,  mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời” sẽ không còn chỗ  cho Cứu Chúa giáng lâm.

Họ được chọn để được giải cứu khỏi thế gian bởi quyền năng tối thượng của Thiên Chúa, họ được đặc ân để trở nên tuyển dân của giao ước, nhưng họ đã không bao giờ được đặt chân vào Đất Hứa, mà ngã chết trong hoang mạc.

Nhắc đến họ, tác giả sách Hê-bơ-rơ viết “Vả, ai là kẻ nghe tiếng Ngài rồi nổi loạn, há chẳng phải những người nhờ Môi-se dẫn ra khỏi xứ Ai Cập sao? Thiên Chúa đã giận ai trong bốn mươi năm? Há chẳng phải giận những kẻ phạm tội mà thây họ đã ngã trong đồng vắng sao? Ngài đã thề với ai rằng không được vào sự  yên nghỉ của Ngài? Há chẳng phải với những người bất tuân sao? Vả, chúng ta thấy những kẻ ấy không vào được vì lòng vô tín.” (Hêb. 3: 16-19)

Advertisements