Một câu chuyện cổ lưu truyền trong vùng Volga

Khi cầu nguyện đừng lặp đi lặp lại như người ngoại, vì họ tưởng cầu nhiều lời sẽ được nhậm. Vậy, đừng bắt chước họ, vì Cha biết các con cần gì trước khi các con cầu xin.
Phúc âm Ma-thi-ơ 6: 7,8.

Một giám mục đi từ Archangel đến tu viện Solovétsk. Trên tàu, ngoài giám mục còn có nhiều người hành hương. Thời tiết tốt, chuyến đi thuận buồm xuôi gió. Những người hành hương tụ tập trên boong tàu ăn uống và tán gẫu. Giám mục cũng lên boong; khi đang đếm bước, ông nhận thấy một nhúm người tú tụm chỗ gần mũi tàu, chăm chú nghe một ngư dân vừa chỉ tay ra biển vừa kể chuyện. Giám mục dừng lại, nhìn theo hướng người đàn ông đang chỉ, nhưng chẳng thấy gì ngoài những làn nước lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ông đến gần, lắng nghe; nhưng khi người đàn ông nhìn thấy giám mục thì vội cất mũ chào rồi im lặng. Những người khác cũng cất mũ cúi chào.

‘Đừng bận tâm, các bạn’, vị giám mục cất tiếng trấn an, ‘tôi đến để nghe chuyện mà thôi.’

‘Ông ấy đang kể cho chúng con nghe về những ẩn sĩ.’ một người đáp lời, đó là một thương nhân, anh dạn dĩ hơn những người còn lại.

‘Những ẩn sĩ nào?’ giám mục hỏi lại trong khi tiến về hông tàu rồi ngồi trên một thùng gỗ. ‘Kể cho tôi nghe với. Tôi cũng thích nghe. Anh đang chỉ tay về cái gì?’

‘Hòn đảo nhỏ mà chúng ta đang thấy đó,’ người đàn ông trả lời, chỉ tay về một chấm nhỏ chếch về hướng phải. ‘Đó là hòn đảo các ẩn sĩ đang sống để cứu rỗi linh hồn của họ.’

‘Đảo nào đâu?’ giám mục hỏi lại. ‘Ta chẳng thấy gì cả.’

‘Kia kìa, ở đằng xa, xin ngài nhìn theo tay con. Ngài có thấy một đám mây nhỏ? Ngay dưới nó hơi chếch về phía trái, chỉ là một vạch mờ. Đó là hòn đảo.’

Giám mục chăm chú nhìn nhưng vẫn không thấy gì ngoài mặt nước lung linh dưới ánh mặt trời.

Ta chẳng thấy gì cả,’ ông nói, ‘Nhưng những ẩn sĩ ấy là ai mà sống ở đó?’

‘Họ là những thánh nhân,’ người đánh cá trả lời.

‘Từ lâu rồi con vẫn nghe chuyện về họ, nhưng chưa bao giờ tận mắt thấy họ cho đến cuối năm vừa rồi.’

Người đánh cá kể, trong một lần ra khơi đánh cá anh bị kẹt lại trong đêm trên đảo mà không biết mình đang ở đâu. Đến sáng, khi đang thơ thẩn tình cờ anh tới một cái chòi đất và gặp một ông lão đứng gần đấy. Liền khi ấy, hai người nữa bước ra, họ cho anh ăn, hong khô quần áo, vật dụng của anh, và giúp anh sửa thuyền.

‘Trông họ như thế nào?’ giám mục hỏi.

‘Một người thì nhỏ thó, lưng còng. Ông ấy mặc áo thầy tu và trông rất già; có lẽ đã hơn trăm tuổi, con đoán thế. Ông già đến nỗi túm râu bạc của ông nhuốm màu xanh lá. Ông luôn mỉm cười, mặt ông sáng như thiên thần từ trên trời xuống. Người thứ hai cao hơn ông lão trước, nhưng cũng rất già. Ông mặc một chiếc áo nông dân rách nát. Râu ông rậm và ngả sang màu vàng xám. Ông rất lực lưỡng. Khi con chưa kịp đến giúp thì ông đã lật thuyền của con lại như thể nó chỉ là một xô nước nhỏ. Ông lão cũng rất tốt bụng và vui tính. Người thứ ba thì cao lớn, hàm râu bạc của ông dài đến gối. Ông trông nghiêm nghị với hàng lông mày nổi bật; trên người ông chẳng có gì ngoài một mảnh vài quấn ngang hông.’

‘Họ có nói chuyện với anh?’ Giám mục hỏi.

‘Phần lớn thời gian họ làm mọi việc trong im lặng, hiếm khi họ trò chuyện với nhau. Chỉ cần một cái nhìn của một người, hai người kia liền hiểu ý. Con hỏi vị cao lớn nhất rằng các cụ sống ở đây đã lâu chưa. Cụ nhíu mày lằm bằm một điều gì đó như thể cụ đang tức giận; nhưng vị cao tuổi nhất liền cầm tay ông mỉm cười, thế là ông ấy im lặng. Vị cao tuổi nhất chỉ nói: ‘Cầu xin ơn thương xót trên chúng con,’ rồi mỉm cười.’

Trong khi người đánh cá say sưa kể chuyện, tàu đến gần hòn đảo.

‘Này, có thể thấy đảo rõ hơn rồi, nếu ngài vui lòng nhìn xem,’ thương nhân vừa nói vừa chỉ tay.

Giám mục nhận ra một dải màu tối sẫm – đó là hòn đảo. Chăm chú nhìn một lúc, ông rời khỏi mũi tàu rồi tiến đến đuôi tàu, rồi hỏi tài công:

‘Đằng kia là đảo nào vậy?’

‘Đó là đảo không tên,’ người tài công trả lời. ‘Có nhiều đảo giống như thế trên vùng biển này.’

‘Có đúng là có những ẩn sĩ sống trên đó tìm kiếm sự cứu rỗi cho linh hồn của mình?’

‘Người ta nói thế, thưa ngài, nhưng con không biết như thế nào. Các ngư dân kể rằng họ đã thấy những vị ấy; nhưng cũng có thể họ đã thêu dệt.’

‘Ta muốn lên đảo để gặp họ,’ giám mục nói. ‘Con làm được không?’

‘Tàu không thể cập đảo được,’ tài công trả lời, ‘nhưng ngài có thể dùng xuồng. Xin ngài bảo thuyền trưởng.’

Thuyền trưởng được mời đến. ‘Ta muốn gặp những ẩn sỉ này,’ giám mục nói. ‘Ta dùng xuồng chèo được không?’

Thuyền trưởng cố ngăn cản.

‘Dĩ nhiên là được rồi,’ ông thưa, ‘nhưng phải mất nhiều thời gian. Nếu ngài cho phép, con xin thưa rằng những ông lão ấy chẳng đáng cho ngài quan tâm. Con nghe nói rằng họ là những lão già ngu ngốc, chẳng hiểu biết gì, không nói lời nào, họ chẳng khác gì loài cá biển.’

‘Ta muốn gặp họ,’ giám mục trả lời, ‘ta sẽ trả cho con công chờ đợi và cho sự cố bất thường này. Hãy cho ta một chiếc xuồng.’

Chẳng làm gì khác hơn được, thuyền trưởng ra lệnh. Thủy thủ hạ buồm, tàu hướng về hòn đảo. Người ta đem một chiếc ghế đặt ở mũi tàu cho giám mục ngồi. Hành khách cũng tụ tập về mũi tàu, chăm nhìn về hòn đảo. Bây giờ những người tinh mắt có thể nhận ra những tảng đá trên đảo, rồi thấy cái chòi đất.

Cuối cùng, một người nhận ra các ẩn sĩ. Thuyền trưởng đem ống nhòm quan sát, rồi trao nó cho giám mục.

‘Thấy được rồi. Có ba người đang đứng trên bờ. Kia kìa, hơi chếch về phía phải của tảng đá lớn.’

Giám mục vớ lấy ống nhòm, định vị, cuối cùng ông cũng thấy ba người đàn ông: một người cao, một người thấp, người còn lại rất nhỏ thó và còng lưng, họ cùng đứng trên bờ nắm tay nhau.

Thuyền trưởng quay sang giám mục.

‘Tàu không thể đến gần hơn nữa, thưa giám mục. Nếu ngài muốn vào bờ thì phải dùng xuồng nhỏ, tàu phải neo tại đây thôi.’

Người ta buông neo và hạ buồm. Một chiếc xuồng được hạ thủy, những tay chèo vào xuồng, giám mục xuống thang vào chỗ ngồi trên xuồng. Họ vung tay chèo, chiếc xuồng lướt nhanh về hòn đảo. Đến khi cách bờ chỉ vừa một tầm ném, họ nhìn thấy ba ông lão: người cao chỉ có một tấm khố quấn ngang hông, người thấp khoác lên mình chiếc áo choàng nông dân rách nát, còn ông lão rất già lưng còng theo tuổi tác thì mặc chiếc áo thầy tu cũ mèm – ba người cùng đứng cầm tay nhau.

Chiếc xuồng tấp sát bờ để giám mục bước lên.

Ba ông lão gập người cúi chào, và khi giám mục ban phép lành họ càng cúi mình thấp hơn nữa. Rồi vị giám mục bắt đầu nói chuyện với họ.

‘Ta đã nghe nói rằng các con là những người thánh thiện, sống ở đây để cứu rỗi linh hồn mình, cầu nguyện với Chúa cho những người khác. Ta, một đầy tớ không xứng đáng của Chúa, được ơn gọi, theo ơn thương xót của Thiên Chúa, để chăn giữ và dạy dỗ bầy chiên của Ngài. Ta ước mong được gặp các con, những tôi tớ của Chúa, và làm hết sức mình để dạy dỗ các con.’

Ba ông lão nhìn nhau mỉm cười, nhưng không nói gì.

‘Hãy cho ta biết’, vị giám mục tiếp, ‘các con làm gì để cứu rỗi linh hồn mình, và bằng cách nào mà các con có thể phụng sự Chúa trên hòn đảo này.’

Ẩn sĩ thứ hai thở dài, nhìn người lớn tuổi nhất là người rất già. Ông lão rất già mỉm cười, rồi thưa:

‘Chúng con không biết cách phụng sự Chúa. Chúng con chỉ tự lo cho mình, thưa tôi tớ Chúa.’

‘Nhưng bằng cách nào mà con cầu nguyện với Chúa?’ vị giám mục hỏi.

‘Chúng con cầu nguyện như thế này,’ ẩn sĩ trả lời, ‘Chúa có ba vị, chúng con có ba người, xin thương xót chúng con.’

Rồi thì ba người ngước mắt lên trời, đồng thanh lặp lại:

‘Chúa có ba vị, chúng con có ba người, xin thương xót chúng con!’

Giám mục mỉm cười.

‘Các con đã nghe nói về giáo lý Ba Ngôi,’ ông giảng giải. ‘Nhưng các con cầu nguyện không đúng cách. Các con, những con người tin kính, đã chiếm được tình cảm của ta. Ta hiểu các con muốn làm vui lòng Chúa, nhưng các con không biết cách phụng sự Ngài. Đó không phải là cách đúng để cầu nguyện; hãy lắng nghe ta, ta sẽ dạy cho các con. Ta sẽ dạy các con, không phải theo cách của ta, mà là cách Chúa dạy dỗ trong Kinh Thánh để mọi người cầu xin Ngài.’

Rồi giám mục khởi giảng giải cho những ẩn sĩ về cách Thiên Chúa tự mặc khải Ngài với loài người; dạy cho họ về lẽ đạo Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Linh.

‘Chúa Con đã đến thế gian,’ ông nói, ‘để cứu loài người, và đây là cách Ngài dạy chúng ta cầu nguyện. Hãy lắng nghe và lặp lại theo ta: ‘Lạy Cha chúng con.’

Ông lão thứ nhất lặp lại theo vị giám mục, ‘Lạy Cha chúng con,’ người thứ hai nói, ‘Lạy Cha chúng con,’ người thứ ba nói, ‘Lạy Cha chúng con.’ ‘ở trên trời,’ vị giám mục dạy tiếp.

Ẩn sĩ thứ nhất lặp lại, ‘ở trên trời’, nhưng ông lão thứ hai bắt đầu lắp bắp, người cao lớn thì không cách chi lặp lại cho đúng được. Râu của lão che kín miệng nên không thể nói rõ lời. Còn ẩn sĩ rất già, không còn chiếc răng nào, chỉ lắp bắp trong miệng.

Giám mục lặp lại lần nữa, ba ông lão lặp lại theo. Vị giám mục ngồi trên một tảng đá, ba ông lão đứng trước mặt ông, chăm chăm nhìn vào miệng giám mục, cố lặp lại mọi lời ông nói ra. Suốt cả ngày dài giám mục kiên nhẫn dạy, lặp đi lặp lại đến hai mươi, ba mươi, rồi đến hàng trăm lần, các ông lão cũng kiên nhẫn lặp lại mọi lời của giám mục. Họ cứ lắp bắp, vấp váp, ông nhẫn nại sửa họ, hết lần này đến lần khác.

Vị giám mục không chịu rời khỏi họ cho đến khi ông dạy họ thuộc toàn bài Cầu nguyện chung, không chỉ lặp lại theo ông mà còn có thể tự mình đọc hết bài cầu nguyện. Ẩn sĩ thứ hai là người thuộc bài nhanh nhất. Giám mục yêu cầu ông lão đọc lại nhiều lần, cuối cùng hai người kia cũng thuộc theo.

Trời sẫm tối, mặt trăng như mọc lên từ mặt nước, giám mục đứng lên, trở về tàu. Khi ông từ biệt những ông lão, họ cung kính cúi mặt sát đất tiễn đưa ông. Ông nâng họ dậy, ôm hôn từng người, dặn dò họ cầu nguyện như ông đã dạy. Rồi ông lên xuồng trở lại tàu.

Ngồi trên xuồng, giám mục nghe rõ giọng nói của ba ẩn sĩ đọc vang bài cầu nguyện chung. Khi đến gần tàu, dù không còn nghe rõ tiếng của họ, ông vẫn có thể nhìn thấy dưới ánh trăng, ba ông lão đứng cạnh nhau, y như lúc ông rời khỏi đảo, người thấp nhất đứng giữa, người cao nhất bên phải, người cao vừa bên trái. Ngay khi giám mục lên tàu, người ta vội nhổ neo giăng buồm. Những cánh buồm ngậm gió, thuyền băng băng ra khơi. Giám mục ngồi ở đuôi tàu chăm nhìn về hòn đảo đang xa dần. Trong một lúc, ông vẫn có thể nhìn thấy các ẩn sĩ, nhưng giờ họ đã khuất khỏi tầm nhìn, dù ông vẫn thấy hòn đảo.

Cuối cùng thì hòn đảo cũng biến mất, chỉ còn mặt biển chập chờn dưới ánh trăng.

Những người hành hương đang chìm trong giấc ngủ, sự im ắng bao phủ boong tàu. Giám mục không muốn ngủ, ông ngồi một mình ở đuôi tàu, chăm nhìn về phía hòn đảo dù không còn thấy gì, ông không ngừng suy nghĩ về những con người thánh thiện ấy. Chắc họ đã thỏa lòng lắm khi được dạy thuộc bài cầu nguyện chung; ông tạ ơn Chúa vì đã sai ông đến dạy dỗ và giúp đỡ những con người tin kính ấy.

Giám mục vẫn ngồi đó, vừa suy nghĩ vừa chăm nhìn ra biển hướng về hòn đảo đã không còn nhìn thấy được. Ánh trăng lung linh, lấp lánh trên mặt nước dợn sóng. Đột nhiên, ông nhìn thấy một vật trắng và sáng xuất hiện trong dải ánh trăng cắt ngang mặt nước. Đó là con hải âu, hay là cánh buồm của một chiếc thuyền nhỏ ẩn hiện dưới ánh trăng? Giám mục chăm chú nhìn.

‘Chắc hẳn là một chiếc thuyền buồm đi sau mình’ ông nhủ thầm ‘nhưng nó đang mau chóng bắt kịp ta. Chỉ một phút trước nó còn ở đằng xa, nhưng giờ đã rất gần. Không thể nào là một chiếc thuyền, bởi vì ta không thấy cánh buồm nào; nhưng dù là gì đi nữa, nó cũng đang đuổi theo ta và bắt kịp ta.’

Ông không thể nào nhận ra nó là gì. Không phải thuyền, không phải chim, cũng không phải cá! Nó to lớn hơn hình dạng một con người; vả lại, người thì không thể di chuyển trên biển như thế.

Giám mục đứng lên, kêu tài công:

‘Nhìn kìa, ông bạn, cái gì thế? Cái gì thế?’ giám mục lặp lại câu hỏi dù nay ông đã thấy rõ họ là ai – ba ẩn sĩ đang chạy trên mặt nước, áo họ trắng sáng, râu họ óng ánh, họ lẹ làng áp sát con tàu.

Người lái tầu kinh hãi buông tay lái, há hốc nhìn.

‘Ôi, Lạy Chúa! Những vị ẩn sĩ chạy trên mặt nước đuổi theo chúng ta như thể họ đang đi trên đất liền!’

Những hành khách nghe anh nói, vội nhỏm dậy, tràn về đuôi tàu. Họ thấy những ẩn sĩ đang đi tới, tay trong tay, hai người bên ngoài vẫy tay ra hiệu cho tàu dừng lại. Ba người lướt trên mặt nước mà không cần cử động đôi chân. Trước khi con tàu kịp dừng, họ đã đến sát, ngẩng đầu, cả ba cùng cất tiếng:

‘Thưa tôi tớ Thiên Chúa, chúng con quên mất lời ngài dạy. Hễ còn đọc lời cầu nguyện thì chúng con còn nhớ, khi ngừng đọc trong một chốc, những lời ấy rơi rụng và vỡ vụn. Chúng con chẳng nhớ được gì. Xin dạy lại cho chúng con.’

Giám mục cúi gập người bên hông tàu, nói:

‘Thưa những người của Thiên Chúa, lời cầu nguyện của quý ngài đã đến với Chúa. Tôi không xứng đáng. Xin cầu nguyện cho chúng tôi, những con người tội lỗi.’

Giám mục kính cẩn nghiêng mình trước ba ông lão; họ quay đi băng mình ra biển. Một tia sáng chiếu xuống nơi họ mất dạng, cho đến khi trời hửng sáng.

chuyển ngữ truyện ngắn The Three Hermits của Leo Tolstoy

Ký thuật của các sách Phúc âm về sự giáng sinh và phục sinh của Chúa Giê-xu thể hiện những phương cách khác nhau Thiên Chúa đã chọn để thực hiện công việc của Ngài.

Đọc tiếp »

Ánh sáng thiên thượng phơi bày những điều ẩn giấu bên trong mà chúng ta không muốn nhìn thấy.

Đọc tiếp »

Giống các môn đồ khi Chúa bị đóng đinh  trên đồi Gô-gô-tha, chúng ta chỉ muốn né tránh thập tự giá – thập tự giá của Chúa Cơ Đốc và thập tự giá của chính chúng ta

Đọc tiếp »

Một khi chúng ta nâng  sở thích cá nhân lên ngang tầm của sự đoán định xấu tốt, chúng ta đang hạ thấp thẩm quyền đạo đức của mình, và đánh mất niềm tin của người khác khi chúng ta lên tiếng phê phán điều xấu.

Đọc tiếp »

Tất cả được ghi lại để cho chúng ta những bài học sâu sắc về Thiên Chúa và ân điển của Ngài. Ngài đã đến để cứu mọi người, ngay cả những kẻ bạo hành tình dục, như gia phả của Chúa Giê-xu đã ghi lại.

Đọc tiếp »

Chúng ta cần có sự khôn ngoan để nhận ra rằng ngay cả hậu quả nghiêm trọng của tội lỗi có thể là cơ hội để tội nhân trải nghiệm ân điển và sự cứu chuộc của Chúa .

Đọc tiếp »

Từ Kinh Thánh chúng ta có thể học hỏi nhiều điều về sự cầu nguyện, rồi chúng ta sẽ nhận ra rằng những nhân vật trong Kinh Thánh không phải lúc nào cũng cảm thấy dễ dàng khi cầu nguyện, và có lẽ họ cũng gặp những nan đề như chúng ta thường gặp.

Đọc tiếp »

Có phải Thiên Chúa đang nức lòng tìm kiếm một kẻ cầu thay, một người đủ dũng khí nài ép Ngài đi đến mức tận cùng của lòng thương xót?

Đọc tiếp »

Chúng ta đã quen với hình ảnh của một quản nhiệm hội thánh: là một CEO hơn là người chăm sóc bầy chiên. Chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của việc chuyển tải khải tượng, hoạch định, và tổ chức. Song, Chúa Giê-xu là người chăn bầy hơn là một CEO.

Đọc tiếp »

Tại sao có những lúc cuộc đời quá khó khăn? Tại sao đau khổ là một phần của đời người? Tác giả Thi Thiên nhắc chúng ta nhớ lại rằng Chúa luôn gần gũi với những tấm lòng tan vỡ. Chúng ta có thể học biết từ những nhân vật trong Kinh Thánh những gì cần làm khi tuyệt vọng.

Đọc tiếp »

Tại sao người nô lệ chấp nhận tôn giáo của chủ nô – rồi chuyển hóa tôn giáo ấy.

Đọc tiếp »

Tình dục là món quà quý báu Chúa ban cho chúng ta để tôn vinh Ngài qua sự hoàn thiện hôn nhân, thể hiện tình yêu, truyền giống, và vui hưởng lạc thú. Nền đạo đức tình dục Cơ Đốc tìm cách cực đại hóa niềm vui thỏa và lạc thú bằng cách thụ hưởng đặc ân này.

Đọc tiếp »

Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy các Cơ Đốc nhân đã thất bại trong sứ mạng thể hiện Chúa Giê-xu trong đời sống, bởi vì sự thay đổi trong Chúa đối với họ là quá khó và quá hiếm hoi. Đặc biệt là những người Tin Lành xem như đã định hướng đúng cho nếp sống nhưng thường khi lại thích khoe mẻ đạo đức và thánh khiết.

Đọc tiếp »

Sự an ủi của Chúa Thánh Linh đến và ngập tràn tâm hồn tôi. Tôi an nghỉ trong sự bình an của riêng mình, trong sự đùm bọc của cộng đồng, và ngày nay trong một gia đình theo truyền thống, ở đó có một người gọi tôi là “vợ”, và những người khác gọi tôi là “mẹ”.

Đọc tiếp »

Ta là cha đẻ mà cũng là mẹ đẻ của tội lỗi. Nếu tội lỗi biến mất khỏi đất, những kẻ chuyên chống trả tội lỗi cũng biến mất theo, cùng với gia đình và gia sản của họ.

Đọc tiếp »

Đối với tín hữu, ngày chết là ngày đăng quang, là ngày lễ cưới để hiệp một với Chúa Cơ Đốc. Được giải thoát khỏi tội lỗi, buồn rầu, đau khổ và mọi cám dỗ…

Đọc tiếp »

Nếu để lòng mình lắng xuống, chịu khiêm nhu thuận phục tìm kiếm sự soi dẫn của Chúa Thánh Linh, chúng ta sẽ thấy có sự tương đồng kỳ lạ giữa người Pha-ra-si thời Tân Ước với chúng ta ngày nay.

Đọc tiếp »

Dù với đức tin hoài nghi hay đức tin xác tín thì chúng ta được xưng công chính chỉ bởi một điều duy nhất: Thập tự giá.

Đọc tiếp »

Morris vẫn giữ bên mình một kỷ vật để nhắc nhở ông về quá khứ tội lỗi ấy – tấm thẻ tù nhân Trại giam Dartmoor.

Đọc tiếp »

Không có thẩm quyền nào khác cho người rao giảng Lời Chúa ngoài sự kêu gọi và sai phái từ chính Thiên Chúa

Đọc tiếp »


Chấp nhận Chúa Cứu Thế tức là chấp nhận điều kiện làm người: Chúng ta không còn bị đoán phạt. Lịch sử không còn là bi kịch. Sự chết đời đời không còn là định mệnh của chúng ta.

Đọc tiếp »

Mọi hình thái của đạo thật là sự thể hiện tình yêu thương và lòng nhân ái bất vụ lợi, bất cứ điều gì không phát xuất từ tình yêu thương không thể được xem là đức hạnh hoặc tôn giáo thật.

Đọc tiếp »

Một trong những thách thức lớn nhất đối với tín hữu Cơ Đốc là làm sao kiểm soát được những khát khao của mình hầu duy trì sự cân bằng thích đáng giữa những lựa chọn đầu tư cho đời này và sống cho đời sau.

Đọc tiếp »

Tôn giáo của họ là tôn giáo của sự quyết tâm, thay vì tôn giáo của đức tin và tình yêu thương, và của tấm lòng tan vỡ.

Đọc tiếp »

Khi cầu nguyện trở thành cuộc tranh đấu hơn là mối tương giao, tôi cứ lặp đi lặp lại cùng một lời nài xin rồi tự hỏi, “Chúa có lắng nghe?”

Đọc tiếp »

Biết bao triều đại, biết bao nền văn minh đã trỗi dậy rồi suy tàn. Lịch sử chứng minh rằng không có gì tạo dựng bởi bàn tay loài người có thể trường tồn. Chúng ta cần có một điều gì lớn hơn lịch sử, một điều gì vượt quá lịch sử.

Đọc tiếp »

Ngài đến trong hình hài bé nhỏ nhất mà con người có thể tưởng tượng ra: một tế bào trứng, rồi bào thai lớn lên trong lòng một trinh nữ khiêm nhu.

Đọc tiếp »

Trong hai trăm năm mươi năm qua, chưa có năm nào trôi qua mà không có ít nhất một buổi trình diễn trường ca Messiah của Handel.

Đọc tiếp »

Tôn giáo của anh em là gì? Có phải là sự công chính bề ngoài hoàn hảo nhất? Hãy tiến xa hơn nữa. Tôn giáo của anh em phải là tôn giáo của tấm lòng.

Đọc tiếp »

Trong ngày đoán xét, người Pha-ri-si sẽ đứng dậy mà lên án anh em. Vì sự công chính của họ vượt quá sự công chính của anh em như các từng trời cao hơn đất vậy!

Đọc tiếp »

Các thầy thông giáo được xem là những người khôn ngoan nhất, còn người Pha-ri-si là những người thánh thiện nhất.

Đọc tiếp »

Thường khi Ngài để chúng ta thắng, nhất là khi tâm điểm của cuộc tranh luận liên quan đến ơn thương xót của Ngài.

Đọc tiếp »

Không bệnh tật nào Chúa Giê-xu không thể chữa lành, không khuyết tật bẩm sinh nào ngài không thể hàn gắn, không ma quỷ nào ngài không thể trục xuất. Song, ngài từng gặp những người vô tín không thể thuyết phục, và những tội nhân không chịu hoán cải.

Đọc tiếp »

Chính sự tấn công dữ dội nhắm vào đức tin Cơ Đốc đã trở thành cơ hội lớn để trình bày Cơ Đốc giáo.

Đọc tiếp »

Tôn giáo càng tinh tuyền số người theo càng ít. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chỉ có ít người chọn đường hẹp.

Đọc tiếp »

Chính các nhóm tín hữu quây quần với nhau để thờ phượng và học Kinh Thánh là bệ phóng giúp phát triển Phong trào Tin Lành ở Anh, rồi ở Mỹ.

Đọc tiếp »

Trong khi người Tin Lành tin rằng Thiên Chúa ban ơn giảng dạy cho những chức việc như sứ đồ và tiên tri, thì thẩm quyền tối hậu thuộc về Kinh Thánh, không thuộc về truyền thuyết của giáo hội.

Đọc tiếp »

Đấng thánh khiết tuyệt đối không khứng chịu tội ác, mà họ đối với Ngài chẳng khác gì “khói nơi lỗ mũi, như lửa cháy cả ngày.”

Đọc tiếp »

Chính họ đã chọn kiếp sống lang thang trong hoang mạc khi ngoan cố khước từ vâng phục mạng lịnh Chúa.

Đọc tiếp »

Ông còn  là nhà thần học viết bằng những phím đàn.

Đọc tiếp »

Khi một nhà quý tộc ca ngợi những thành quả của ông trong “lĩnh vực giải trí”, Handel trả lời rằng ông sáng tác để giúp con người tốt hơn, không phải để họ giải trí.

Đọc tiếp »

Có lẽ bạn đã nhầm lẫn. Không có đoạn văn nào trong Tân Ước nói rằng Thiên Chúa nhập vào thân xác Chúa Giê-xu.

Đọc tiếp »

Theo tôi, bạn nên đọc những phần khác nhau trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, chứ không chỉ tập trung vào Tân Ước.

Đọc tiếp »

Ngay sau đó, Chúa Giê-xu nhấn mạnh rằng điều bất khả đối với loài người (người giàu vào nước Thiên Chúa) là điều khả dĩ đối với Thiên Chúa.

Đọc tiếp »

Nhiều câu hỏi đã được gởi đến Ben Witherington III – Học giả Kinh Thánh, Giáo sư môn Tân Ước tại Chủng viện Asbury. Ông cũng giảng dạy tại Chủng viện Thần học Ashland, Đại học High Point, Trường Thần học Duke, và Chủng viện Thần học Gordon-Conwell, Hoa Kỳ. Sau đây là một số trong các câu giải đáp của ông.

Đọc tiếp »

Phúc âm Ma-thi-ơ 5: 13

Các con là muối của đất, nhưng nếu muối mất vị mặn thì làm thế nào cho nó mặn lại được? Muối ấy trở nên vô dụng, phải ném bỏ đi và bị người ta chà đạp dưới chân.

Bài viết mới

lịch đăng bài viết

Tháng Sáu 2017
H B T N S B C
« Th5    
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  

chuyên mục

nhập địa chỉ email, bạn sẽ nhận tin nhắn khi có bài viết mới.

Join 2 other followers

enarty.wordpress.com